Đôi điều về côn nhị khúc

Côn nhị khúc gỗ cẩm lai

Đôi điều về côn nhị khúc

Côn nhị khúccôn hai khúc hay lưỡng tiết cônsong tiết côn (âm romanji tiếng Nhật là nunchaku) là một dạng đoản côn có hai khúc được nối với nhau bởi một đoạn dây mềm. Sử dụng thịnh hành trong võ phái Karatedo Nhật Bản và hiện nay, do tính chất tiện lợi của nó, côn nhị khúc đã được nhiều môn sinh của các võ phái khác nhau ưa chuộng trong luyện tập và tự vệ.

Theo Nguyễn Văn Quang, huyền đai đệ tứ đẳng Karaté, nguyên giám đốc võ đường Champion Karaté,

 

thì ngày xưa, khi phát kiến ra môn Nunchaku ( Côn nhị khúc), cái tên đó là kết hợp của những chữ sau đây:

N : chữ viết tắt của Côn Nhị Khúc (Nunchaku).

U : chữ tắt của Unrelengting (cứng rắn) vì muốn bảo vệ hay sử dụng vũ khi này chúng ta phải cương quyết.

N : chữ tắt của national (quốc gia) vì chúng ta phải đoàn kết mới có hiệu quả, như hai đầu côn nhị khúc được nối lại với nhau bằng 1 sợi dây.

C : chữ tắt của Care (cẩn thận) vì chúng ta phải cẩn thận khi sử dụng vũ khí này với kẻ địch.

H : chữ tắt của Holocaust (sự phá hủy)

A : chữ tắt của Adherance (sự kết chặt) vào 1 quy luật để quần chúng thừa nhận thứ vũ khí này.

K : chữ tắt của Karaté-do

U: chữ tắt của Uniformity (sự đồng nhất) của toàn bộ quy luật và luật lệ được áp dụng.

 

I. Lịch sử

Trong các võ phái cổ truyền Trung Hoa, chắc chắn côn nhị khúc cũng có nhưng không thịnh hành, thường các môn đồ tập côn tam khúc hoặc tiên (roi) với nhiều đốt nối với nhau (thất tiết tiên hoặc cửu tiết tiên). Có thể tìm thấy trong các vũ khí cổ của Trung Hoa một dạng thức gần tương tự côn nhị khúc nhưng bao gồm một khúc dài và một khúc ngắn hơn, hoặc một khúc dài với hai khúc ngắn nối với nhau bằng dây mềm, khi luyện tập thường tập một chiếc hoặc tập cả hai chiếc. Cây côn này còn được gọi tên là song hổ vĩ côn (côn đuôi hổ)

Tương truyền tại vùng Okinawa khi tiểu vương quốc này bị người Nhật đô hộ, sự cai trị tàn khốc với sưu cao thuế nặng của người Nhật khiến dân bản địa liên tục nổi dậy phản kháng. Các võ quan Nhật tại các làng mạc đã nghiêm cấm không cho dân chúng được sử dụng dụng cụ bằng sắt trong sản xuất sinh hoạt, chỉ trừ một con dao sắt được sử dụng hạn chế với sự kiểm soát của kẻ cai trị, loại bỏ tất cả những gì có thể trở thành vũ khí sát thương nhằm thủ tiêu ý chí đấu tranh của người dân bản địa. Việc tập luyện dưới hầm những chiêu thức tự vệ đã định hình những kỹ thuật chiến đấu Karatedo đầu tiên, và các dụng cụ sản xuất bằng gỗ, tre, trúc đã được người dân ở đây chế tạo thành các vũ khí để hợp pháp hóa sử dụng khi mang trong người vượt thoát khỏi mọi sự kiểm duyệt: trường côn (bo) vốn xuất xứ từ một cây sào; song quải (tonfa) một dạng dùi cui có cán chĩa ngang hình chữ L; chĩa ba (sai) để xóc rơm rạ; tiểu đoản côn là khúc côn gỗ ngắn như cây bút có thể để gọn trong lòng bàn tay; liềm (kama) ban đầu là dụng cụ cắt lúa, và côn nhị khúc (nunchaku) xuất xứ từ hai thanh tre hay gỗ buộc dây ở đầu dùng cuộn bó lúa khi đập lúa.

Trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có một dụng cụ cũng xuất xứ từ chiếc kẹp lúa và cấu tạo giống hệt nunchaku, tuy vẫn thường thấy có hai thành một dài một ngắn được gọi là thanh mẹ thanh con. Vũ khí này được gọi tên là thiết lĩnh với lối đánh rất gọn, có nguồn gốc từ xa xưa và hiện nay nhiều võ phái xuất phát từ Bình Định vẫn sử dụng.

 

Điều cần nói thêm ở đây rằng, dù rất có thể chiếc côn nhị khúc đầu tiên không là bản quyền của vùng Okinawa Nhật Bản, nhưng chính tính phổ biến của nó sau này theo sự bành trướng của môn phái Karatedo khắp thế giới, đã khiến cả thế giới chỉ biết đến một tên gọi thuần Nhật – nunchaku của vũ khí này, và côn nhị khúc nghiễm nhiên được thừa nhận nguyên ủy từ quần đảo Okinawa. Sự phổ biến hình ảnh của Lý Tiểu Long với côn nhị khúc trong tay, mà vũ khí này được họ Lý ưa chuộng và tập luyện nhờ sự chỉ dẫn của một đồng môn Triệt quyền đạo vốn xuất thân ban đầu từ Karate, cũng phần nào khuyếch trương và phổ dụng hóa loại vũ khí này.

II. Côn nhị khúc tại Việt Nam

Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống hóa các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp [1], trung cấp [2] & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn thể thao nghệ thuật.

Ngày 20 tháng 5 năm 2005, Bộ môn Côn nhị khúc của Trung tâm đào tạo Huấn luyện viên võ thuật Việt Nam (từ 12/9/2011 đã đổi tên thành Trung tâm đào tạo Huấn luyện viên thể thao Việt Nam), gọi tắt là Trung tâm MIC[1] đã thông qua “Luật thi đấu côn nhị khúc” do thầy Lê Rích Tô – giáo viên côn nhị khúc của Trung tâm MIC nghiên cứu xây dựng. Điểm lưu ý của luật này là đã thể thao hóa côn nhị khúc với cả hai dạng thức thi đấu quyền thuật côn nhị khúc và đối kháng côn nhị khúc. Theo luật này, quyền thuật côn nhị khúc là loại hình thi đấu hoàn toàn sáng tạo – riêng biệt của mỗi thí sinh, không có các bài quyền mẫu như hệ thống thi đấu của các môn võ thuật khác. 

III. Cấu tạo

Côn nhị khúc sơ khai là hai thanh tre, gỗ có tiết diện hình tròn hoặc hình chữ nhật, dài bằng nhau và nối với nhau bằng một đoạn dây chắc chắn. Từ dụng cụ sơ khai ban đầu, côn nhị khúc ngày nay có kiểu dáng rất đa dạng với rất nhiều biến thể của hình dạng hai thanh côn: hình tròn, hình nửa tròn, hình lục giác, hình bát giác, hình vuông, hình chữ nhật nhưng thịnh hành nhất là thân côn được tạo các cạnh hình lục giác hoặc bát giác để gia tăng đặc tính sát thương cho vũ khí nhưng vẫn thuận tiện khi sử dụng, không quá sắc cạnh nhưng cũng không quá trơn nhẵn. Hai khúc này thường được làm với chu vi phần đuôi côn (nơi nối dây), nhỏ hơn một chút so với phần đầu côn (nơi cầm trong tay người tập) để khi sử dụng thuận tiện hơn do lực ly tâm không khiến đôi côn tuột văng ra khỏi tay người tập trong những chiêu thức loan côn, múa côn. Chiều dài của mỗi đoạn côn, tùy theo sở thích cá nhân và cấu tạo cơ thể người sử dụng, nhưng thường tối ưu là bằng độ dài cẳng tay người sử dụng tính từ cùi chỏ đến giữa lòng bàn tay (khoảng 25-35 cm). Đường kính thân côn phần đầu (to nhất) khoảng 2,5 đến 3,5 cm; phần đuôi nơi nối dây khoảng 2 đến 3cm.

Chất liệu làm hai thanh côn cũng đa dạng hơn, kim loại (để không bị quá nặng thường làm bằng hai ống kim loại), tre, gỗ, nhưng thịnh hành nhất là côn làm bằng gỗ cứng. Đoạn dây nối hai thanh côn có thể làm bằng dây dù chắc hoặc làm bằng xích sắt mềm bằng cách đục lỗ thẳng xuyên tâm trên bề mặt của đuôi côn, luồn dây xuống cố định vào một hoặc hai lỗ xuyên ngang thân phía đầu côn. Theo kinh nghiệm của nhiều người đã từng sử dụng côn nhị khúc, việc luồn dây xuống qua hai lỗ khiến trọng tâm của côn vững vàng hơn và kiểm soát côn dễ hơn là chỉ luồn dây xuống một lỗ xuyên ngang. Khi kéo hai thanh côn thẳng ra, chiều dài đoạn dây còn lại sau khi đã nối côn tối ưu là bằng 1/2 cho đến dài nhất là bằng chu vi của cổ tay người tập. Dây quá ngắn thì đôi côn không linh động, dây quá dài thì tuy lực đánh mạnh hơn, linh hoạt hơn nhưng việc kiểm soát côn rất khó khăn.

#Cách bảo quản côn nhị khúc:

Cũng như tất cả các loại vũ khí khác, côn nhị khúc cũng phải được bảo quản tốt, hầu tạo được hiệu quả tốt trong tập luyện, sử dụng, cũng như tránh được những sự cố nguy hiểm có thể xảy ra như: gãy côn, đứt dây…)

Chế độ bảo quản đối với thân côn là luôn được lau chùi kỹ lưỡng, 1 tháng vài lần, bằng cách tẩm dầu ôliu vào 1 mảnh vải mềm rồi tiến hành lau chùi. Nếu không có dầu ôliu thì có thể dùng các loại dầu khác như: dầu sơn cây trà…Sự lau chùi này giúp cho bạn cầm côn nhị khúc được dễ dàng và không làm chai tay khi bạn tập luyện nhiều.

Ngòai ra đối với dây côn thì cũng cần có 1 chế độ bảo quản thích hợp. Nếu bạn dùng loại côn nhị khúc nối với nhau bằng 1 đoạn dây nilon thì cạnh trong của lỗ cột dây côn bạn nên quét 1 lớp nhựa sơn, để tránh sự cọ xát quá mạnh làm cho dây côn mau đứt. Ngay cả sợi dây, nếu được bạn cũng nên sơn 1 lớp nhựa trơn.

Có như vậy bạn mới tập luyện được 1 thời gian lâu dài và tránh được phần nào nguy hiểm khi dây đứt. Các loại côn có dây xích bằng sắt cũng phải thường xuyên được kiểm tra, bởi sự chuyển động xoay chiều làm cho các khoen sắt cọ xát, dễ tạo sự ăn mòn dẫn đến việc dây bị đứt. Tốt nhất là trước khi sử dụng côn nhị khúc để tập luyện hay tự vệ bạn cần 1 bước kiểm tra lại dây côn xem còn tốt hay không…..

 

IV. Tập luyện

Người sử dụng thường cầm sát tay vào thân côn phía đầu, hoặc cách đầu côn khoảng 1-2cm, đôi khi có thể cầm vào giữa thân côn. Các động tác tập luyện phong phú giúp cho người tập làm chủ đôi côn thành thạo. Do khi cầm một thanh côn và tấn công bằng thanh còn lại, sau khi chạm mục tiêu nhận phản lực thanh côn sẽ bật mạnh về sau, nên để không bị “phản tác dụng” khi sử dụng côn nhị khúc đòi hỏi phải khổ luyện. Khổ luyện là một vấn đề, nhưng mà luyện tập cho thân thể mình phản ứng nhanh nhạy, người và côn phải hoà hợp như một. Phải cảm nhận được sự chuyển động của không khí khi côn đánh vào mục tiêu.

Lực đánh của côn nhị khúc rất mạnh ở phía đầu côn do được hỗ trợ bởi lực ly tâm và phản lực trong nhiều đòn thế mà người sử dụng cầm một thanh côn và đánh văng thanh còn lại vào các mục tiêu hiểm trên người đối phương như đầu, mặt, gáy, tay, chân. Tuy nhiên, ngoài những dạng thức dùng côn nhị khúc được tập luyện và sử dụng trong thực chiến rất đa dạng: có thể một tay cầm vào phía đầu một thanh côn, một tay cầm phía đuôi thanh còn lại, giữ thẳng 2 thân côn và tấn công bằng đầu thanh côn phía trên vào các yếu điểm như huyệt đạo, hoặc đỡ, gạt, đập; có thể cầm chập cả hai thanh côn và đánh, đâm, đỡ gạt; có thể hai tay cầm hai thanh côn và dùng đoạn dây ở giữa để xiết cổ, khóa tay, chặn chân đối phương v.v. Tuy nhiên, dù bằng bất cứ hình thức nào, để sử dụng thành thạo côn nhị khúc rất cần khổ luyện bằng các kỹ thuật loan (quay) côn, thu côn, và tập đánh côn trực tiếp lên các dụng cụ cứng như trụ cây, bao cát.

 

V. Phân loại kỹ thuật côn nhị khúc

Kỹ thuật sử dụng Côn nhị khúc được phân chia thành các nhóm nhỏ như sau:

  1. Kỹ thuật quay (loan): số 8, vòng tròn, anpha….
  2. Kỹ thuật quật:  – Có 05 đòn quật:

+ Quật dọc.

+ Quật xéo ngoài.

+ Quật xéo trong.

+ Quật ngang hông.

+ Quật an-pha (α).

 3. Kỹ thuật chuyền: có 8 động tác cơ bản & 32 biến thể: chuyền trước, sau, đổi tay, qua hông, qua cổ.

* Chuyền số 1 (Chuyền trước dưới lên).

* Chuyền số 2 (Chuyền vai sau dưới lên, chếch ra sau).

* Chuyền số 3 (Chuyền trước vai sau dưới lên).

* Chuyền số 4 (Chuyền dọc trên xuống ngang cổ).

* Chuyền số 5 (Chuyền xéo dưới lên).

* Chuyền số 6 (Chuyền ngang hông).

* Chuyền số 7 (Xéo trong).

* Chuyền số 8 (Chuyền an-pha α )

4.  Kỹ thuật lăn: có 4 động tác lăn cơ bản & vô số các bài tập phối hợp khác (Đây là nhóm kỹ thuật có xuất xứ đầu tiên tại Việt Nam).

5. Nhóm các tư thế thủ, tấn pháp (tấn dài, tấn ngắn, tấn sau, tấn ngan, tấn trung gian…), cận chiến (bật, ném,…) & kỹ thuật sử dụng 2, 3 côn nhị khúc cùng lúc hoặc luân phiên.

6. Kỹ thuật cận chiến:

– Chuyển đổi thế thủ.

– Tháo gỡ côn nhị khúc.

– Bật côn.

– Bắn côn.

– Ném côn.

7 . Kỹ thuật phối hợp:   – 05 bộ kỹ thuật phối hợp.

+ Bộ số 1: Song Côn (Bịt mắt sử dụng 2 côn nhị khúc, tiến 5 bước, lùi 5 bước), không tính thời gian.

+ Bộ số 2: Quật – Chuyền (2 phút 30 giây).

+ Bộ số 3:Lăn đối xứng(10 lần), không tính thời gian.

+ Bộ số 4: Quật luân phiên (10 lần/1 phút 15 giây/1 tay) tay trái, tay phải.

+ Bộ số 5: Quật an pha (a) (15 giây/1tay).

Lời thiệu bộ số 5: “Lời qua tiếng lại, Có ích gì đâu! Sao không thở nhẹ? Mỉm cười nhìn nhau!”

*  Tác dụng bộ phối hợp

Bộ phối hợp số 1 (Bộ 1).

1. Phát triển cơ quan phân tích tiền đình, giúp bạn bớt chóng mặt, say xe, giữ thăng bằng & định hướng vận động tốt hơn. 2. Vận động 2 tay sẽ giúp bạn khéo léo hơn. Đặc biệt giúp 2 bán cầu não phải & trái cùng phát triển, qua đó tăng cường khả năng phân tích & tổng hợp của não bộ. 3. Giúp bạn vượt qua cảm giác sợ hãi, can đảm & tự tin hơn.

Bộ phối hợp số 2 (Bộ 2).

1.Tốc độ sử dụng CNK nhanh giúp phát triển sự khéo léo của đôi tay & khả năng phối hợp vận động toàn thân. Dĩ nhiên nó cũng tác động đến cơ quan phân tích tiền đình & các bán cầu đại não (có những tác dụng giống như Bộ 1

2. Động tác “chuyền sau” phối hợp với các kiểu chuyền khác giúp phát triển lồng ngực, cột sống & nhóm cơ – xương – khớp phần trên cơ thể.

Bạn hãy thở ra khi quật xéo & bật dọc, sau đó hít vào trong tất cả các động tác còn lại. (Nếu bạn nhắm mắt để thực hiện Bộ 2, bạn sẽ đạt được cảm giác phân biệt giữa tĩnh & động, giữa vận động & thư giãn, trương cơ & thả lỏng. Điểm đặc biệt trong Bộ này là bạn hãy cố gắng phát hiện ra điều đó: Tìm thấy điểm tĩnh lặng trong cuộc sống bộn bề, dữ dội).

Bộ phối hợp số 3 (Bộ 3).

– Bộ số 3 là một bộ khó, vì bạn phải tập làm quen với kỹ thuật lăn CNK trong vận động thực tế, do đó rất dễ rơi côn. Ý tưởng ban đầu của Bộ này là kỹ thuật chuyền số 3 (chuyền ngang bụng), sau đó nếu sử dụng thuần thục sẽ phối hợp thêm 1 kỹ thuật quay vòng tròn trên đầu. Tuy nhiên để giảm độ khó, động tác này đã được đổi thành chuyền xéo.

 

– Bộ 3 sẽ giúp bạn tăng cường khả năng phối hợp vận động toàn thân. Động tác lăn côn được thực hiện ngay sau động tác xoay 360 độ sẽ giúp bạn hoàn thiện chức năng phối hợp giữa cơ quan tiền đình và hệ cơ quan vận động. (Những HS còn để rơi côn là biểu hiện chưa tốt của sự phối hợp này).

Bộ phối hợp số 4 (Bộ 4).

– Bộ 4 thể hiện sự mềm dẻo, uyển chuyển của cây tre trong giông bão (Rất hiếm khi có người thể hiện được “tầng” này – đó là động tác thứ 2 tiến lên tấn trước quật anpha. Khi kết thúc lần quật này bạn PHẢI TẠO ĐƯỢC “VẬN TỐC ĐẦU TỐI ĐA” cho lần quật anpha tiếp theo. Điểm khó nhất của Bộ 4 nằm ở đây). Tinh thần của Bộ 4 thể hiện sự mềm dẻo, linh động nhưng đầy mãnh lực của người tập võ trong giông bão của cuộc sống. Chúng ta phải xoay chuyển, vận động cuốn theo bão táp của cuộc đời nhưng cuối cùng vẫn hiên ngang thẳng đứng như cây tre của làng quê VN.

 

– Bộ 4 cũng có thể gọi là “Bộ Anpha”, vì bạn phải thực hiện liên tiếp 3 lần quay anpha với tốc độ cao trong 3 tấn pháp khác nhau. Đây là Bộ kế thừa & nâng cao hiệu quả của 3 Bộ trước đó. Bộ 4 giúp bạn rất nhiều trong việc rèn luyện các tố chất nhanh, mạnh, bền & khả năng khéo léo của cơ thể.

 

* Lưu ý: Quật anpha là kỹ thuật nguy hiểm. Bạn phải bảo đảm tâm anpha nằm ngay trán (xa nhất là 20cm). Đã có HS chấn thương đầu, gãy răng khi không quan tâm đến điểm quan trọng này!

Bộ phối hợp số 5 (Bộ 5).

“Lời qua tiếng lại, Có ích gì đâu, Sao không thở nhẹ Mỉm cười nhìn nhau”

(Bài thơ này được đọc để điều hòa hô hấp khi thực hiện Bộ 5. Bài thiệu này được rút gọn, dựa theo 1 bài thơ ở Chùa Một Cột – Q. Thủ Đức Tp.HCM vào năm 1990 – Xin lỗi các bạn tôi không nhớ tên tác giả). Con người từ cát bụi sẽ trở về cát bụi. Bạn hãy nhớ lại bài thiệu của Bộ 5 khi chuẩn bị to tiếng với người khác nhé!

 

Bộ 5 thể hiện những điều sau: 1. Trong sự quay cuồng, tất bật của con người, XH hay tạo hóa – những tưởng là hỗn loạn, vô lối – nhưng không, chúng đều tuân thủ những quy luật chặt chẽ (Chỉ có điều, bạn đã biết được quy luật ấy không thôi). 2. Tất cả mọi sự bắt đầu đều phải có kết thúc. Bản lĩnh của con nhà võ là phải biết kết thúc một việc đã bắt đầu. Nguyên lý vận động của phương đông yêu cầu: bắt đầu ở đâu phải kết thúc ở đấy.

 

Bộ 5 đã nâng bạn lên 1 tầm vận động mới, đó là sự tự động hóa – tự hoạt động trong một quy trình chặt chẽ, là tính độc lập bên trong sự phối hợp nhịp nhàng. Phải có sự chỉ huy, phối hợp rất tốt của não bộ với hệ vận động cơ thể bạn mới có khả năng thực hiện đạt yêu cầu của Bộ này. Điểm đặc biệt là chúng phải vừa phối hợp nhịp nhàng vừa họat động độc lập. CNK lúc ấy sẽ trở thành 1 bộ phận mới của cơ thể bạn.

 

Tay phối hợp theo chân, chân phải di chuyển theo lập trình, hô hấp lại thả trôi cùng bài thiệu, CNK như 1 chiếc áo giáp mới bảo vệ bạn trong sự xoay vần của tạo hóa! Bạn phải thực hiện tất cả các điều ấy dưới sự chỉ huy buông thả của não bộ (Chỉ huy mà như không chỉ huy. Não bộ phải giữ khoảng cách với các cơ quan vận động trong khi chỉ huy sự phối hợp này. Nếu não bộ quá tập trung vào 1 cơ quan nào đó sẽ làm cho cả hệ thống rối loạn ngay). Cụ thể hơn, nếu bạn chỉ lo chú ý đến chân thì sẽ quên nguyên tắc tay, nếu lo tay lại lẫn lộn nguyên tắc di chuyển của chân, và các yêu cầu phối hợp khác cũng như vậy.

 

Chúng ta tạm gọi đây là sự ứng dụng của nguyên lý âm dương trong CNK & kỹ năng quản lý.

Ngoài ra, trong các bài tập phối hợp & nâng cao còn có nhóm các kỹ thuật lia côn nhị khúc, tung côn nhị khúc lên không trung, kỹ thuật điều khiển côn nhị khúc bằng cổ tay, lăn hoặc chuyển hướng côn nhị khúc trên các ngón tay.

Sau giai đoạn tập luyện cơ bản (bậc sơ cấp), người yêu thích côn nhị khúc sẽ tiếp tục học lên cao. Khác hẳn với các môn võ thuật hoặc binh khí khác, việc giảng dạy nâng cao này không tập trung vào việc huấn luyện các đòn thế mà chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn cho môn sinh các CÔNG THỨC sáng tạo đòn thế mới. Từ 1 vài đòn tiêu biểu, sau khi thấm nhuần CÔNG THỨC ấy, môn sinh có thể khai sáng & phối hợp ra vô số các đòn thế khác, mới lạ hơn, đẹp mắt hơn….. (Hiện nay, tại Bộ môn côn nhị khúc của Trung tâm Đào tạo HLV thể thao Việt Nam, & từ năm 1985 đến nay, trong hơn 2.000 người đã tập luyện, chưa có 1 môn sinh nào khẳng định “Đã tập luyện được tất cả các kỹ thuật côn nhị khúc theo phân loại như trên!”. Điều đó cho thấy, kỹ thuật sử dụng côn nhị khúc tại Việt Nam ngày nay đã phát triển thiên biến vạn hóa, cả về số lượng & độ khó của các đòn thế.

VI. Phương pháp sáng tạo quyền

Các bạn có thể thực hiện các nguyên tắc sau để sáng tạo 1 bài quyền:

 

1. Quyền thuật là phương tiện rèn luyện & tăng cường thể chất con người. Do đó trong quyền thuật người ta thấy được tất cả cả dạng vận động của con người từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Có cả các động tác bò, lăn lộn, bay nhảy… đến các bài tập khởi động của võ thuật. Theo nguyên lý này, bạn có thể đưa vào bài quyền bất kỳ dạng vận động nào của con người mà bạn thích.

 

2. Quyền thuật là hình thức mô phỏng đời sống dân tộc, văn hóa, tôn giáo. Do đó trong bài quyền sẽ xuất hiện các tư thế của các tượng đài, tượng thờ, các nghi thức – nghi lễ tôn giáo; các điệu múa dân gian…. Bạn có thể tham khảo điều này trong các nhà truyền thống, nhà văn hóa, nhà thờ, đình chùa, miếu mạo…. (Điển hình của dạng này là người Nhật Bản đã đưa tư thế “chào mặt trời” của Thần đạo vào bài quyền của Karatedo). Khi thực hiện đúng (hoặc mô phỏng tốt) những điều trên, bài quyền của bạn sẽ có thần khí rất lớn.

 

3. Quyền thuật là sự thể hiện 1 cuộc chiến thật sự. Lúc ấy nhìn bạn đi quyền, người xem có thể hình dung bạn đang trong 1 cuộc chiến đấu, có thể là với đối thủ có binh khí, 1 hoặc nhiều người đang tấn công bạn…. Do đó trong bài quyền này có thể sẽ có những động tác khó hiểu mà chỉ khi nào được tác giả lý giải thì mọi người mới hiểu được.

 

4. Bài quyền là sự kết hợp 1 phần hoặc tất cả 05 Bộ phối hợp cơ bản.

 

* Lưu ý: 

 

– Bài quyền đẹp & hay phải như 1 tác phẩm nghệ thuật. Một bài quyền nên có lúc nhanh lúc chậm, lúc trầm lúc bổng, có cả nét tĩnh lặng của mặt nước hồ thu nhưng cũng có khi như “ba đào dậy sóng”; Nên có cả những động tác đơn giản và các tuyệt chiêu mà chỉ có 1 mình bạn làm được…. Ngoài ra, tiếng hét Ki-ai cũng góp phần quyết định nên cái “thần” trong bài quyền của bạn.

 

Thông qua bài quyền, người xem có thể nhận ra nét tính cách, trình độ vận động & cả kinh nghiệm sống của bạn – tác giả bài quyền. Chúc bạn có 1 bài quyền sáng tạo thật hay & hấp dẫn nhé.

 

VII. Một số nguyên tắc khi sử dụng côn nhị khúc

1. Nguyên tắc Nhất thể: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất khi sử dụng côn nhị khúc. Theo đó, côn và người sử dụng nó phải hòa nhập thành 1. Côn nhị khúc là sự (phương tiện) nối dài của cánh tay. Sự hợp nhất này giúp tăng cường khả năng kiểm soát và điều khiển côn theo ý muốn của người sử dụng.

2. Nguyên tắc âm dương: côn nhị khúc là 1 binh khí thể hiện cả sự vận hành của nguyên tắc (triết lý, tư tưởng) âm dương khi sử dụng. Điều quan trọng là người sử dụng tìm ra sự giao hòa âm dương (thả lỏng & trương cơ) trong tất cả các chiêu thức mà mình đã tập luyện. (Nếu chưa phát hiện được điều này sẽ làm người tập rất mau mệt mỏi – vì phải trương cơ liên tục).

3. Nguyên tắc cương quyết & dứt khoát: Trong mọi kỹ thuật của côn nhị khúc đều yêu cầu người sử dụng chúng phải thực hiện động tác ấy thật cương quyết và dứt khoát. Điều này làm tăng tính mạnh mẽ trong kỹ thuật & thần khí khi thực hiện các bài tập luyện về côn nhị khúc.

4. Nguyên tắc Đẳng thế: Như trên đã nói, côn nhị khúc là sự nối dài của cánh tay, do đó, việc sử dụng đôi tay thuần thục không có nghĩa là trọng tâm cơ thể (vùng rốn) phải trồi sụt, lắc lư. Tương tự như bộ môn khiêu vũ, hông & vai người sử dụng côn nhị khúc phải thẳng, không được uốn éo, nhấp nhô. Vi phạm nguyên tắc này, bên cạnh việc vi phạm nguyên tắc “nhất thể”, nó còn làm cho người xem có cảm giác mệt mỏi, làm mất tính thẩm mỹ và nghệ thuật của côn nhị khúc.

Ngoài ra, người sử dụng côn nhị khúc còn phải lưu ý đến một số nguyên tắc của vật lý học như lực ly tâm (cánh tay đòn), phản lực; điểm tập trung lực, sự hợp lực, sự triệt tiêu lực và tính liên hoàn, nguyên tắc khống chế côn nhị khúc, phương pháp xử lý khi va chạm côn nhị khúc trong tập luyện và thi đấu.

 

Sưu tầm internet

Share this post